1.2. Rủi ro và các biện pháp phòng ngừa
1.2.1. Rủi ro trong lao động
Có nhiều rủi ro luôn song hành với hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. Thông thường người ta chia ra làm hai loại rủi ro là rủi ro về an toàn (tai nạn, tử vong) và rủi ro về sức khỏe (mắc các bệnh về thể chất và tâm lý có nguyên nhân từ môi trường lao động). Trong khi rủi ro về sức khỏe được cho là gây tác động lớn hơn nhưng thống kê trong lĩnh vực này gặp nhiêu khó khăn hơn do tiêu chí xác định không thống nhất. Các con số thống kê chính thức, vì vậy chủ yếu tập trung vào tình hình tai nạn.
xem thêm: Tiêu chuẩn ISO 45001:2018 - An toàn sức khỏe nghề nghiệp
Báo cáo tình hình tai nạn toàn quốc năm 2018 cho thấy
các lĩnh vực xảy ra nhiêu tai nạn nhất gồm:
- Xây dựng: 15,79% tổng số vụ tai nạn và 15,57 % tổng
số người chết;
- Sản xuất vật liệu xây dựng: 10,53 % tổng số vụ và
10,66 % tổng số người chết;
- Dệt
may, da giày: 10,53 % tổng số vụ và 10,66 % tổng số người chết;
- Khai
thác mỏ, khai thác khoáng sản: 9.65% tổng số vụ và 10,53 tổng số người chết;
- Dịch vụ: 9,65 % tổng số vụ và 9.02 % tổng số người
chết;
- Cơ khí, luyện kim: 7,89 % tổng số vụ và 7,38 % tổng số người chết.
Xây dựng và khai thác mỏ, khai thác khoáng sản luôn là
những lĩnh vực gây ra nhiều tai nạn và thương vong nhất. Điều gây ngạc nhiên đối
với nhiều người ngoài ngành là lĩnh vực dệt may, da giày, vốn được coi là ngành
công nghiệp nhẹ, và ngành dịch vụ lại thuộc nhóm những ngành có tỷ lệ tai nạn
và số người chết cao nhất. Điều này cho thấy không thể chủ quan trong bất kỳ
lĩnh vực nào.
Các yếu tố chấn thương chủ yếu:
- Tai nạn giao thông chiếm 28,95 % tổng số vụ và 30,7
% tổng số người chết;
- Ngã từ trên cao chiếm 14,91 % tổng số vụ và 14,75 %
tổng số người chết;
- Vật
rơi, đổ sập chiếm 14,91 % tổng số vụ và 16,39 % tổng số người chết;
- Điện giật chiếm 10,53 % tổng số vụ và 9,84 % tổng số
người chết;
- Máy,
thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 10,53 % tổng số vụ và 9,84 % tổng số người chết;
- Vật văng bắn chiếm 4,39 % tổng số vụ và 4,1 % tổng số người chết.
Các loại tai nạn phổ biến xét theo nguyên nhân :
- Ngã từ trên cao
- Ngã
do trơn trượt
- Điện giật
- Bỏng
- Đứt chi
- Bị cuốn vào thiết bị
- Bị va đập
- Bị vật rơi, văng bắn vào người
- Ngộ độc khí
- Nhiễm phóng xạ, điện từ trường
- Đánh nhau tại nơi làm việc
- Tai nạn giao thông
Các bệnh nghề nghiệp phổ biến:
- Các bệnh về hô hấp: bụi phổi, thiếu oxy
- Giảm thính lực
- Giảm thị lực Bệnh về hệ xương khớp
- Trĩ
- Các bệnh ngoài da
- Dị ứng
1.2.2. Các biện pháp phòng ngừa tai nạn và đảm bảo sức
khỏe
Phòng ngừa, giảm thiểu, tiến tới loại bỏ tai nạn lao động
và đảm bảo, tiến tới nâng cao sức khỏe trong môi trường lao động đòi hỏi sự phối
hợp của nhiều biện pháp khác nhau. Bảng dưới đây cho thấy mức độ áp dụng của
các biện pháp quản lý ở tầm vĩ mô trong các thời kỳ khác nhau. Các biện pháp được sử dụng bao
gồm phòng ngừa, bảo vệ, chủ động thích nghi, khuyến khích (áp dụng một thực
hành tốt), giảm nhẹ tác động của môi trường lao động. Các biện pháp đó được áp
dụng khác nhau theo các cấp độ từ cá nhân tới các nhóm và xã hội.
Bảng 1.1. Áp dụng các nguyên tắc thực hành tốt về sức
khỏe nghề nghiệp
|
Biện
pháp/ cấp độ |
Phòng
ngừa |
Bảo
vệ |
Thích
nghi |
Khuyến
khích |
Giảm
nhę |
|
Cá
nhân (đa dạng) |
Phòng
ngừa tại nạn. Vệ sinh |
Y tế lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân 1930. |
Tổ chức lao động một cách khoa học. Phân tích công việc
1950 |
Chương trình hỗ trợ người lao động 1950 |
Bồi thường 1910 |
|
Nhóm (các nhóm bị phơi nhiễm, các nhu cầu đặc biệt) |
Môi trường làm việc an toàn và lành mạnh. An toàn tích
hợp sẵn 1970 |
Y tế (theo) nghề nghiệp. Bảo vệ về y tế 1940s |
Nghiên cứu sinh lý lao động, gồm cả việc thiết kế 1950 |
Các chương trình nâng cao sức khỏe người lao động 1980 |
Hoạch định và sẵn sàng ứng phó tình huống khẩn cấp 1970 |
|
Xã hội và tất cả người lao động (nguyên tắc chung của
chăm sóc sức khỏe ban đầu) |
Các công nghệ kiểm soát. Quản lý sức khỏe môi trường
1970 |
Sức khỏe môi trường. Dịch tễ học. Chăm sóc sức khỏe
phòng ngừa 1960 |
Các công nghệ thích hợp. Bảo vệ người tiêu dùng 1970 |
Giáo dục sức khỏe và các chương trình khuyến khích khác
1970 |
Chữa bệnh. Chăm sóc sức khỏe. Phục hồi sức khỏe 1920 |
Ở cấp độ doanh nghiệp, các biện pháp thường được áp dụng
để quản lý vấn đề an toàn, sức khỏe nghề nghiệp bao gồm:
(i) Đào tạo, huấn luyện về an toàn, bảo vệ sức khỏe
nơi làm việc. Đào tạo (ở Việt Nam thường gọi là tập huấn) về an toàn lao động,
sức khỏe nghề nghiệp được áp dụng cả đối với người sử dụng lao động, người quản
lý và người lao động. Với mỗi đối tượng, nội dung đào tạo sẽ khác nhau. Người sử
dụng lao động cần được đào tạo để hình thành nhận thức về trách nhiệm, nghĩa vụ
cung cấp điều kiện lao động phù hợp cho người lao động và các rủi ro nếu không
làm vậy. Nội dung đào tạo đối với người lao động chủ yếu là các yêu cầu cụ thể
về an toàn đối với công việc của mình như việc sử dụng bảo hộ lao động, các quy
trình lao động an toàn (an toàn điện, an toàn khi làm việc trên cao, khi làm việc
với vật nặng, làm việc trong không gian hẹp, kín khí ...), hay đào tạo về chăm
sóc sức khỏe bản thân, đặc biệt là nhận thức về các bệnh nghề nghiệp có liên
quan. Trong một số trường hợp, bên cạnh việc học lý thuyết, còn cần phải quan
tâm đến thực hành, chẳng hạn như việc diễn tập thoát hiểm, sơ cứu ban đầu ...
Việc đào tạo cần được thực hiện trước khi được giao việc và đào tạo nhắc lại định
kỳ (hằng năm).
(ii) Xây dựng và thực hiện các quy trình, hướng dẫn,
tiêu chuẩn an toàn. Doanh nghiệp có thể tham khảo các tiêu chuẩn, các quy phạm
thực hành của quốc gia, quốc tế, của các ngành để cá biệt hóa thành quy định
riêng (tiêu chuẩn công ty). Các quy trình an toàn phải bao quát cả quá trình hoạt
động, gồm các quá trình lao động, chú ý tới các thao tác an toàn, hoạt động sửa
chữa, vệ sinh môi trường ... và việc đảm bảo an toàn đối với thiết bị sản xuất,
môi trường lao động. Tham khảo Phụ lục 2 về một số tiêu chuẩn, quy chuẩn an
toàn lao động của Việt Nam.
Các quy chuẩn đưa ra các yêu cầu tối thiể, trong khi các tiêu chuẩn thường đưa
ra các yêu cầu ở mức trung bình cho từng ngành nghề. Doanh nghiệp có thể, và
nên, xây dựng các quy định của mình cao hơn mức tối thiểu đó.
Các quy trình, hướng dẫn có đối tượng sử dụng chủ yếu
là người lao động, do đó nên được viết bằng ngôn ngữ đơn giản, trực quan. Sử dụng
các hình ảnh, biểu tượng, màu sắc là những cách tốt giúp công nhân dễ nắm bắt
được thông điệp. Thông thường màu xanh chỉ khu vực an toàn, màu vàng nhằm nhắc
nhở phải cẩn thận, trong khi màu đỏ cho biết khu vự, thiết bị có mức độ rủi ro
cao, chỉ những người được đào tạo thích hợp mới được (hoặc nên) tiếp cận, sử dụng.
Nên dùng các hình ảnh, biểu tượng đơn giản, tránh gây hiểu nhầm. Không nên dùng
hình ảnh của một công nhân cụ thể để truyền tải thông điệp.
Với các quy trình, hướng dẫn thao tác đó, nên tính toán để loại bỏ hoặc hạn chế tối
đa khả năng làm sai, gây nguy hiểm do vô tình. Chẳng hạn khi sửa chữa thiết bị
nhất thiết phải cắt điện của thiết bị đó.
Thợ sửa phải trực tiếp ngắt công tắc và treo biển "Đang sửa chữa, cấm đóng
điện" tại tủ điệ. Nếu tủ điện có khóa cục bộ thì khu vực để công tắc điện
(abtomat) của thiết bị cần sửa chữa phải được khóa và thợ sửa chữa phải trực tiếp
giữ chìa khóa.
(iii)
Cung cấp và sử dụng bảo hộ lao động thích hợp cho từng loại công việc và khu vực
làm việc. Phương tiện bảo vệ cá nhân (PPE) là
sự hỗ trợ quan trọng và bắt buộc phải có cho những công việc lao động có nguy
cơ mất an toàn hoặc ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động. PPE một mặt bảo
vệ người lao động, mặt khác trong nhiều trường hợp nó lại cản trở công nhân. Việc
sử dụng khẩu trang hoặc mặt nạ, chẳng hạn,
là bắt buộc ở những khu vực có nồng độ bụi cao hoặc có hơi khí độc. Tuy nhiên,
sử dụng chúng trong điều kiện thời tiết nóng nực trong thời gian dài sẽ là cực
hình đối với công nhân. Do đó, bên cạnh việc sử dụng bảo hộ lao động cần được hỗ
trợ bởi các biện pháp khác. Ví dụ ở những khu vực có độ ồn cao (ví dụ trên 85
dB) công nhân bắt buộc phải dùng nút bịt tai, nhưng cũng không thể làm việc
liên tục trong điều kiện đó. Thường người ta giới hạn thời gian tối đã phơi nhiễm
với những mối nguy hiểu như vậy, chẳng hạn không quá 4 tiếng liên tục.
Bảo hộ lao động cần được trang bị thích hợp với điều
kiện làm việc cụ thể để bảo vệ công nhân một cách hiệu quả nhất, đồng thời cũng
tránh gây nguy hiểm cho chính môi trường làm việc. Ví dụ công nhân thường xuyên
tiếp xúc với hóa chất thì phải được trang bị mặt nạ phòng độc, găng tay và bắt
buộc phải mặc áo dài tay, đảm bảo không có phần da hở để phòng ngừa tình huống
bị hóa chất văng bắn vào người. Hoặc ở những khu vực dễ bắt cháy như kho xăng,
dung môi hóa hơi, nơi sản xuất, lưu giữ thuốc nổ ... thì không sử dụng quần áo
bằng sợi tổng hợp nylon) hoặc dụng cụ bằng sắt thép do có thể phát ra tia lửa
điện, tĩnh điện do ma sát.
Một yếu tố cũng ít được
quan tâm khi sử dụng bảo hộ lao động là tính an toàn của chúng khi tiếp xúc với
cơ thể người sử dụng, như khả năng gây dị ứng, thôi nhiễm kim loại nặng...
(i)
Khám
sức khỏe định kì. Kết quả khám sức khỏe đinhj kì là một chỉ thị tốt về kết quả
công tác bảo vệ sức khỏe của công ty. Bên cạnh đó còn cần đào tạo an toàn lao động trong doanh nghiệp định kì.
(ii) Truyền thông nội bộ. Như đã đề cập, văn hóa an
toàn là thứ không thể có trong một ngày. Do đó, cần thường xuyên trao đổi,
tuyên truyền về ý nghĩa của việc thực hiện các biện pháp an toàn, bảo vệ sức
khóc người lao động. Cũng cần lưu ý rằng, tri thức không chỉ có được thông qua
những kinh nghiệm mà công ty trực tiếp trải qua. Các bài học từ công ty khác,
thậm chí là ở các quốc gia khác cũng rất đáng để truyền đạt và tích lũy thành
kiến thức của doanh nghiệp. Bản chất, nguyên nhân của các sự cố, tai nạn và các
biện pháp phòng tránh trong tương lai cần được truyền thông rộng rãi để mọi người
cùng rút ra bài học cho riêng mình. Tính nhất quán và minh bạch của thông tin
là một trong các đảm bảo cho thành công của công tác an toàn.
(iii)Áp
dụng hệ thống quản lý về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Tất cả các biện pháp
trên được hệ thống hóa và triển khai đồng bộ trong một hệ thống quản lý nhất
quán. Một hệ thống quản lý ATSKNN giúp công ty nhận diện các nguy cơ và có biện
pháp thích hợp để xử lý các rủi ro đó. ISO 45001 là một trong các hệ thống quản
lý như vậy và nó phù hợp với tất cả các tổ chức, doanh nghiệp, không phụ thuộc
vào quy mô,
loại hình.
Cần lưu ý là các biện pháp nêu trên cần có sự phối hợp với nhau và được quản lý trong một hệ thống tổng thể. Một biện pháp có thể sử dụng để đáp ứng một hoặc nhiều rủi ro, đồng thời một rủi ro cũng có thể và cần được xử lý bởi nhiều hơn một biện pháp.


Dịch vụ cấp giấy Thẻ an toàn lao động chi phí thấp
Trả lờiXóaBài viết hay về chủ đề Đào tạo an toàn lao động
Trả lờiXóa